Phân lập một số thành phần từ phân đoạn Chloroform chiết xuất từ rễ ngưu bàng

Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết nối

ĐẶT VẤN ĐỀ
Với vị trí địa lý và thiên nhiên ưu đãi, Việt Nam nằm trong vùng khí
hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm, thích hợp cho việc phát triển hệ thực vật
phong phú và đa dạng, trong đó đặc biệt kể đến nhóm tài nguyên cây thuốc. Y
học dân gian có nhiều cây vừa được dùng làm rau ăn lại vừa được dùng làm
thuốc như ngải cứu, cải cúc, rau diếp, …và trong đó có rễ Ngưu bàng.
Tại Nhật Bản, rễ Ngưu bàng được sử dụng phổ biến như một loại thức
ăn, phối hợp với củ cải trắng, cà rốt và nấm đông cô tạo thành một loại thức
ăn bổ dưỡng dưới tên gọi “canh dưỡng sinh”, và được coi như là một phương
thuốc chữa bách bệnh. Ở các nước khác trên thế giới (Trung Quốc, Canada,
Ấn Độ,…), rễ Ngưu bàng lại là một vị thuốc được dùng để điều trị đái tháo
đường, đau xương khớp, trị các bệnh ngoài da, bệnh Gout; có tác dụng làm ra
mồ hôi, lọc máu, lợi tiểu, kích thích tiêu hóa.
Tại Việt Nam, Ngưu bàng mới chủ yếu dùng quả (Ngưu bàng tử) trong
y học cổ truyền làm thuốc điều trị cảm cúm, trị viêm phổi, viêm amidan, trị
sốt, chữa hầu họng sưng đau, có tác dụng cầm máu, giải độc, nhuận tràng…
còn rễ Ngưu bàng (Ngưu bàng căn) thì hầu như chưa thấy được sử dụng
(trước khi xuất hiện “phong trào” nấu canh dưỡng sinh [12]) và nghiên cứu.
Từ năm 2006, Nguyễn Thái An và cộng sự đã tiến hành khảo sát,
nghiên cứu thành phần hóa học của rễ Ngưu bàng có nguồn gốc khác nhau và
đã thu được các kết quả bước đầu. Nhằm khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có
ứng dụng vào phòng và điều trị bệnh song song với việc chứng minh kinh
nghiệm sử dụng rễ Ngưu bàng trong dân gian góp phần bổ sung vào kho tàng
cây thuốc Việt Nam một dược liệu mới, đề tài: “Phân lập một số thành phần
từ phân đoạn chloroform chiết xuất từ rễ cây Ngưu bàng” được thực hiện
với các mục tiêu sau:
1. Chiết xuất, phân lập một số thành phần từ phân đoạn chloroform.
2. Nhận dạng chất phân lập.
Để thực hiện các mục tiêu đề ra đề tài được tiến hành nghiên cứu với
các nội dung sau:
1. Giám định tên khoa học mẫu nghiên cứu.
2. Chiết xuất phân đoạn chloroform.
3. Phân lập chất tinh khiết từ phân đoạn chloroform.
4. Nhận dạng chất phân lập được dựa trên các dữ liệu phổ MS, NMR
(1H-NMR, 13C-NMR, DEPT).
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. VỊ TRÍ PHÂN LOẠI, ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT
1.1.1 Vị trí phân loại của chi Arctium L. [4], [8]
Chi Arctium nằm trong phân họ Hoa ống (Tubuliflorae), họ Cúc
(Asteraceae), bộ Cúc (Asterales), phân lớp Cúc (Asteridae), lớp Ngọc lan
(Magnoliopsida), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Vị trí của loài Arctium
lappa L. trong hệ thống phân loại thực vật được tóm tắt như sau:
Ngành Magnoliophyta
Lớp Magnoliopsida
Phân lớp Asteridae
Bộ Asterales
Họ Asteraceae
Phân họ Tubuliflorae
Chi Arctium L.
1.1.2 Đặc điểm thực vật của họ Asteraceae [4]
Cây cỏ hay bụi, ít khi là dây leo hay cây gỗ. Lá đơn, ít khi lá kép hoặc
tiêu giảm, mọc so le. Không có lá kèm. Cụm hoa hình đầu. Hoa lưỡng tính
hay đơn tính. Quả đóng, mỗi quả có một hạt. Hạt có phôi lớn, không có nội
nhũ.
1.1.3 Đặc điểm thực vật chi Arctium L.
Cây thảo, lá ở gốc xếp hình hoa thị, lá ở thân mọc so le. Cụm hoa đầu
có bao chung, gồm nhiều lá bắc kéo dài thành mũi nhọn, có móc ở đỉnh, khi
chín sẽ thành móc quặp giúp cho sự phát tán nhờ động vật. Chi Arctium L.
gồm 10 loài ở vùng ôn đới cựu lục địa. Ở nước ta có nhập trồng 1 loài là
Arctium lappa L. [7].
4
1.1.4 Đặc điểm thực vật và phân bố loài Arctium lappa L.
1.1.4.1 Đặc điểm thực vật
Tên Việt Nam: Ngưu bàng
Tên khác: Đại đao, Á thực, Hắc phong tử, Thử niêm tử [6].
Cây thảo sống hàng năm hay hai năm, cao 1,5-2m, thân thẳng phân
nhánh, có rãnh dọc, màu tím tía, hơi có lông. Lá hình trái xoan, mọc thành
hình hoa thị ở gốc và so le ở trên thân, mặt dưới có nhiều lông trắng mịn,
cuống lá dài, phiến lá to rộng, gốc hình tim, đầu tù hay nhọn, mép có răng cưa
hay lượn sóng. Lá dài 30cm-40cm, rộng 20cm-30cm. Cụm hoa hình đầu, mọc
ở đầu cành, đường kính 2cm-4cm. Hoa màu đỏ hay tím nhạt, các lá của bao
chung kéo dài thành mũi nhọn, có móc ở chóp. Quả bế, thuôn hay gần hình
trứng hơi có cạnh tam giác màu xám nâu. Quả có nhiều móc quặp, phía trên
có một mào lông ngắn [7]. Củ tròn và dài có thể dài từ 1,2m-2,7m nếu trồng
được từ 2 năm trở lên [10]. Nở hoa vào tháng 6-7, có quả tháng 7-8 [2], [7],
[9], [15], [16].
1.1.4.2 Phân bố, sinh thái.
Ngưu bàng ưa ẩm, ưa sáng và thích nghi với vùng có khí hậu á nhiệt
đới núi cao, nhiệt độ trung bình 150C [17].
Ngưu bàng có nguồn gốc ở vùng ôn đới ấm thuộc Nam Âu hay Tây Á.
Hiện nay, cây mọc tự nhiên ở vùng cận Himalaya thuộc Ấn Độ, Nepal và
Trung Quốc. Còn được trồng nhiều nơi tại Trung Quốc và Nhật Bản [17].
Từ năm 1959, Ngưu bàng được nhập trồng từ Trung Quốc vào Việt
Nam. Bước đầu được trồng thử ở Sapa, sau mở rộng trồng ở Bắc Hà (Lào
Cai) và Sìn Hồ (Lai Châu) [13], [17].
Ngưu bàng rất dễ trồng. Tuy nhiên, trong nhiều năm gần đây, cây
không được chú ý phát triển nên chỉ còn một số cây được duy trì thường
xuyên với mục đích giữ giống tại Trại thuốc Sapa - Viện dược liệu [17].
Từ năm 2004, Ngưu bàng được trồng ở bãi giữa sông Hồng, hạt giống
nhập từ Úc.
1.1.4.3. Bộ phận dùng
Theo [13], [17] các bộ phận của Ngưu bàng được sử dụng:
Quả (Ngưu bàng tử).
Rễ ( Ngưu bàng căn).
Lá.
1.2 THÀNH PHẦN HÓA HỌC.
1.2.1 Quả Ngưu bàng:
Năm 1994 từ dịch chiết phân đoạn butanol của lá Ngưu bàng, Han BH
và cộng sự đã phân lập được arctigenin, arctiin, diarctigenin [28].
Theo Min Yong, Gu Kun & Min-Hua Qiu, năm 2007, từ dịch chiết
n-BuOH của quả Ngưu bàng, các tác giả đã phân lập được mairesinol, lappaol
A, lappaol E, lappaol F, lappaol H, arctignan A, arctignan G, arctignan H,
neoarctin A [59].
Năm 2007, Park SY. và cộng sự (Nhật Bản) đã phân lập được
isolappaol C, lappaol C, lappaol D, lappaol F, diarctigenin từ dịch chiết phân
đoạn dichloromethan [47] chiết xuất từ quả Ngưu bàng.
Từ quả Ngưu bàng, các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã phân lập
được arctigenin, arctiin, diarctigenin từ dịch chiết methanol chiết xuất bằng
phương pháp ngâm lạnh, siêu âm và chiết bằng công cụ chiết Soxhlet [40].
Theo [17], [19], quả Ngưu bàng còn chứa các thành phần: L-arctigenin,
(+)-7,8-didehydro arctigenin, diarctigenin, các lappaol-B, neoarc B, các
etignan A-E, neoarctiin-A, neoarctiin-B.
Ngoài ra trong quả Ngưu bàng còn chứa: Daucosterol (nhóm sterol)
[17], innulin (nhóm polysaccharide) [17]; nhóm dầu béo 15-30% [37], 25-
30% [13], [19] với thành phần chủ yếu gồm các glycerid của các acid
palmatic, stearic, oleic [13], acid arachidonic, một ít acid stearic, acid
palmatic với trị số iod là 138, 83 [19]; nhóm các thành phần khác như acid
chlorogenic, matairesinol [17], germacranolid [17].
1.2.2. Lá Ngưu bàng :
Theo [17] lá Ngưu bàng chứa: Arctiol (8α-Hydroxyeudesmol), Δ9(10)-
fukinon (dehydrofukinol), fukinol, fukinanolid, β-eudesmol, petasitolon,
eremophilen, taraxasterol, onopor - dopicrin, arctiin và arctigenin.
Năm 2012, S.Jeelani và M.A. Khuroo (Ấn Độ) từ dịch chiết phân đoạn
chloroform của lá cây Ngưu bàng, bằng phương pháp chạy sắc ký đã phân lập
được 2 hợp chất là 3-hydroxylanosta-5,15-diene và 3-acetoxy-hop-22(29)-ene
[35].
Ngoài ra trong lá còn chứa men oxydase [13].
1.2.3 Trong rễ Ngưu bàng (Ngưu bàng căn).
Rễ Ngưu bàng có chứa: 70% nước [19]; nhóm polysaccharide (inulin
khoảng 50% [17], 56mg% [19], 57% (có khi tới 70%) [13], 45% [4], aretose ,
glucose 5-6% [13], fructofuranan có trọng lượng phân tử thấp (một dạng
inulin)), 2% albumin [19], các vitamin (B1, B2, PP,C), hợp chất acetylen như
polyacetylen [17]: hàm lượng 0,001-0,002% (tính theo dược liệu khô kiệt),
bao gồm chủ yếu: 1,11-tridecadien-3,5,7,9-tetrayne và 1,3,11-tridecatrien-
5,7,9-triyne, acid artiic (hợp chất acetylene có S) [17], các aldehyd như
formaldehyd, acetaldehyde, propionic aldehyd, isopropyl aldehyd [9], alkyl
polyalkyl 0,001-0,002% (trong đó: 1,11- tridecadien-3,5,7,9-tetrayne chiếm
50%, 1,3,11- tridecatrie-5,7,9-triyne chiếm 30% [19])
Ngoài ra theo [17], [19], rễ Ngưu bàng còn chứa các acid:
+ Acid bay hơi: acid acetic, acid propionic, acid butyric, acid isovaleric
[17], [19], acid 3-hexanoic, acid 3-octenoic, acid costic [17], acid crotonic
[19].

Xem link download tại Blog Kết nối!
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status