Thực trạng đầu tư và tăng trưởng phát triển kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua

Download miễn phí Đề tài Thực trạng đầu tư và tăng trưởng phát triển kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua



MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ 2
I. MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 2
1. Khái niệm 2
2. Một số chỉ tiêu đánh giá 3
2.1 Một số thước đo của sự tăng trưởng 3
2.1.1 Tổng sản phẩm trong nước (hay tổng sản phẩm quốc nội – GDP) 3
2.1.2. Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) 5
2.1.3. Thu nhập bình quân đầu người 5
2.2. Một số chỉ số về cơ cấu kinh tế 6
2.2.1. Chỉ số cơ cấu ngành trong tổng sản phẩm quốc nội 6
2.2.2. Chỉ số về cơ cấu hoạt động ngoại thương (X-M) 6
2.2.3. Chỉ số về mức tiết kiệm – đầu tư (I) 6
3. Các quan điểm về tăng trưởng và phát triển kinh tế 6
3.1. Quan điểm nhấn mạnh vào tăng trưởng 6
3.2. Quan điểm nhấn mạnh vào công bằng và bình đẳng trong xã hội 7
3.3 Quan điểm phát triển toàn diện 7
II. XEM XÉT MÔ HÌNH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ THEO QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ. 8
1. Các mô hình dựa vào sự phân tích quá trình đầu tư tác động đến tổng cung của nền kinh tế. 8
1.1. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái cổ điển 8
1.2. Quan điểm tăng trưởng kinh tế của Marx (1818-1883) 9
1.3. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái tân cổ điển 9
1.4. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái Keynes 10
1.5. Căn cứ vào các lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái kinh tế hiện đại 10
2. Đầu tư là nhân tố kích thích tổng cầu nền kinh tế 11
2.1. Vai trò của kích cầu trong tăng trưởng kinh tế 11
2.2. Quan điểm của Keynes về vai trò của đầu tư với tổng cầu 12
3. Mô hình đầu tư tạo điều kiện cho việc phát triển ngành kinh tế mũi nhọn, từ đó tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 13
3.1. Mô hình các giai đoạn phát triển kinh tế của W.Rostow 13
3.2. Mô hình nhị nguyên của Lewis và Oshima 13
4. Đầu tư được coi là cú huých từ bên ngoài giúp các nước đang phát triển thoát khoủi vòng luẩn quẩn của đói nghèo 14
4.1. Mô hình vòng luẩn quẩn của Samuelson 14
4.2. Lý thuyết đầu tư nước ngoài của Vernon về chu kỳ sống sản phẩm và mô hình của Akamateu 15
PHẦN II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 16
I. TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 16
1. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 16
2. Đầu tư trong nước 17
II. TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 19
III. NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI TRONG ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 21
1. Hạn chế của đầu tư 21
2. Hạn chế trong tăng trưởng phát triển kinh tế 23
IV. ĐÁNH GIÁ ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN TỪ CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ 25
1. Đứng dưới mô hình các giai đoạn phát triển kinh tế của W. Rostow 25
2. Vai trò của đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển 29
3. Hiệu quả vốn đầu tư được biểu hiện tổng hợp ở hệ số ICOR 31
4. Dựa vào vai trò của đầu tư với tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế, từ các lý thuyết tăng trưởng => đầu tư với tổng cung và tổng cầu ở Việt Nam 33
PHẦN III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG SỬ DỤNG HIỆU QUẢ VỐN ĐẦU TƯ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 37
 
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

% và cả năm tăng gần 7,7%. Đó là tốc độ tăng trưởng cao nhất trong vòng bẩy năm qua (năm 1998 tăng 5,76%; năm 1999 tăng 4,77%; năm 2000 tăng 6,79%; năm 2001 tăng 6,89%; năm 2002 tăng 7,08% và năm 2003 tăng 7,26%).
Bối cảnh thế giới thời gian qua có nhiều điểm đặc biệt. Kinh tế thế giới sau một thời gian suy thoái đã tăng trưởng trở lại, khiến nhu cầu tăng, chi phí đầu tư lẫn tiêu dùng tăng, trong khi đó nguồn cung tăng không kịp nên giá đầu vào của hầu hết các mặt hàng cũng tăng theo. Năm 2004 thời tiết toàn cầu cũng có những diễn biến bất thường, các loại dịch bệnh phát sinh, đặc biệt là dịch cúm gà xảy ra đầu năm, thảm hoạ sóng thần... Tình hình chính trị an ninh ở nhiều khu vực và quốc gia không ổn định, giá năng lượng biến động mạnh, giá dầu lửa dao động ở mức cao. Hơn nữa sự lan rộng của chủ nghĩa khủng bố, xung đột vũ trang... Những yếu tố này đã ảnh hưởng trực tiếp tới kinh tế, giá cả diễn biến phức tạp. Trong điều kiện đó, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng ở mức tương đối cao là thành tựu đáng ghi nhận.
Do nền kinh tế tăng trưởng khá, cho nên thu ngân sách cả năm đạt 166,9 nghìn tỷ đồng, vượt dự toán 11,8%, bằng 23,5% GDP và tăng 17% so với năm 2003. Có 33 trong 64 địa phương đạt số thu thuế hơn 500 tỷ đồng. Chi ngân sách Nhà nước cả năm 2004 ước đạt 206,05 nghìn tỷ đồng, vượt dự toán 9,8% và tăng 16,7% so với năm 2003. Bội chi ngân sách bằng 4,9% GDP, thấp hơn mức Quốc hội cho phép. Vốn đầu tư toàn xã hội đạt 35,4% GDP. Giá hàng tiêu dùng tăng khoảng 9,5%.
Vượt qua khó khăn về thiên tai và bệnh cúm gia cầm, nông nghiệp vẫn được mùa, thuỷ sản tăng trưởng khá. Sản lượng lương thực có hạt đạt 39,1 triệu tấn, mức cao nhất từ trước đến nay tăng 4,2% so với năm 2003. Sản xuất lúa chuyển mạnh theo hướng: giảm dần diện tích, tăng năng suất và chất lượng lúa gạo để phù hợp yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu gạo.
Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 đạt 354 nghìn tỷ đồng (giá 1994), tăng 16% so với năm 2003, trong đó khu vực Nhà nước tăng 11,4%; khu vực ngoài quốc doanh tăng 22,8% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 15,7%. Điểm nổi bật là chất lượng nhiều sản phẩm công nghiệp đã dần được nâng cao và hiệu quả hơn theo hướng có lợi cho tiến trình phát triển. Nguyên nhân chính là do nhu cầu sản phẩm công nghiệp của thị trường trong nước và xuất khẩu tăng; sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm công nghiệp như thuỷ sản chế biến, sản phẩm gỗ chế biến, dệt may, giày dép,... có nhiều tiến bộ.
Hoạt động xuất nhập khẩu có nhiều tiếm bộ, từng bước thích nghi với quá trình hội nhập. Năm 2004, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt về thị trường và giá cả nhưng hoạt động xuất khẩu tiếp tục được duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 26 tỷ USD, tăng 30% so với năm 2003, vượt mức kế hoạch đề ra và là năm đầu tiên kim ngạch xuất khẩu đạt được bình quân 2,16 tỷ USD/tháng, có tháng đạt trên 2,3% tỷ USD bằng kim ngạch xuất khẩu của cả năm 1991. Nguyên nhân xuất khẩu tăng khá là: Về khách quan: giá các mặt hàng dầu thô, gạo, cao su, hạt điều tăng cao. Về chủ quan: sản xuất trong nước tăng trưởng khá, chất lượng sản phẩm xuất khẩu có tiến bộ, chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước phát huy tác dụng.
Kim ngạch nhập khẩu năm 2004 ước đạt 30 tỷ USD, tăng 23,2% so với năm 2003. Nhập siêu ước đạt 4,7 tỷ USD, bằng 18,8% kim ngạch xuất khẩu.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế (cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần, cơ cấu vùng) đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, từng bước gắn với thị trường trong nước và quốc tế. Tỷ trọng ngành nông, lâm, ngư nghiệp đã giảm từ 21,8% năm 2003 xuống còn 20,4% năm 2004, trong nội bộ ngành cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng tích cực: tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm từ 76,6% năm 2003 xuống còn 75,5% năm 2004; tỷ trọng của ngành thuỷ sản tăng lên từ 16,4% năm 2003 lên 19,5% năm 2004. Trong khi đó, tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng, dự kiến đạt 41,1%, tăng 1,1% so với năm 2003. Đặc biệt tỷ trọng ngành dịch vụ sau 3 năm liên tục giảm thì năm 2004 đã có xu hướng phục hồi, đạt trên 38,5% (năm 2003 là 38,2%). Cơ cấu các ngành dịch vụ bắt đầu có sự thay đổi theo hướng gia tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ có chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm...
Trong qua trình hội nhập và phát triển hiện nay, các thành phần kinh tế tích cực đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân đã có mức tăng trưởng rất cao. Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào tăng trưởng GDP tăng từ 36,6% năm 2000 lên khoảng 42% năm 2004. Theo đánh giá của tờ "Tiếng Vang" của Pháp thì lĩnh vực kinh tế tư nhân của Việt Nam đang có bước phát triển ngoạn mục thể hiện qua nhịp sống sôi động của các thành phố lớn. Theo tờ báo, hiện nay Việt Nam có khoảng hơn 120.000 doanh nghiệp tư nhân, trong đó có 2.500 doanh nghiệp nước ngoài, chủ yếu phát triển trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ đã giúp tạo việc làm, phân phối thu nhập và khuyến khích tiêu thụ.
III. Những vấn đề còn tồn tại trong đầu tư và tăng trưởng phát triển kinh tế ở Việt Nam
1. Hạn chế của đầu tư
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, trong hoạt động đầu tư tại Việt Nam trong những năm qua vẫn còn những mặt hạn chế cần khắc phục.
- Tuy gia tăng về số lượng, nhưng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn thấp. Hiệu quả đầu tư (được tính bằng cách lấy tỷ lệ vốn đầu tư phát triển so với GDP chia cho tốc độ tăng trưởng GDP) giảm, khi hệ số ICOR tăng, năm 1995 mới có 3,3; năm 2000 lên 4,0; năm 2003 đã là 5 (tức là để tăng 1% GDP thì năm 2003 phải huy động lượng vốn đầu tư tương đương 5% GDP). Nguyên nhân chính là do đầu tư vào các dự án cần nhiều vốn nhưng sử dụng ít lao động, đầu tư vào "vỏ" nhiều hơn vào "ruột", đầu tư phân tán, dàn trải do bị co kéo, điều chỉnh nhiều (đây thực chất là hậu quả của tệ nạn "xin- cho"). Ngoài ra, việc giải phóng mặt bằng thường bị kéo dài, tốn kém, nay lại do giá đất tăng làm cho lượng vốn đầu tư tăng lên, tiến độ thi công chậm, công trình dở dang nhiều. Vốn đã ít lại bị "chôn chân", trong khi lãi suất tiếp tục chồng lên vốn vay. Thêm nữa là tình trạng lãng phí, thất thoát vốn trong đầu tư khá lớn nhất là nguồn ngân sách nhà nước và ngay cả nguồn vốn ODA dù được ưu đãi cũng phải trả cả vốn và lãi. Không phải chờ đến đời con cháu, mà từ năm 2003, đã phải trả những món nợ hết thời kỳ ân hạn, một phần vay mới phải dành để trả nợ cũ. Riêng năm nay, lượng vốn phải dùng để trả nợ khối lượng thi công từ các năm trước là 11 nghìn tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương phải chi 6 nghìn tỷ đồng, còn lại ngân sách nhà nước cũng phải trả. Thêm vào đó là giá vật liệu xây dựng cao, trong khi khối lượng thi công không tăng tương ứng.
Bên cạnh đó, tình trạng nợ đọng vốn đầu tư lớn và kéo dài nhiều năm, triển khai kế hoạch vốn đầu tư của các Bộ, ngành, địa phương thường chậm, cùng v
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status